HomeTưởng NiệmThời SựHải QuânSử LiệuTìm hiểuSưu TầmVideoGiải TríLinks
Viewed: 8796619 
Sử LiệuTài liệu lịch sử Việt NamThành lập Quốc gia Việt Nam
   
Home
Tưởng Niệm
Thời Sự
Hải Quân
Sử Liệu
Tìm hiểu
Sưu Tầm
Video
Giải Trí
Links

Phong Trào Dân Chủ VN
Báo Tự Do Ngôn luận ra đời, một bước đột phát trong nỗ lực phá vỡ chính sách độc tai bưng bít thông tin của CSVN.
Báo Tự Do Dân Chủ  ra đời, ngày 2 tháng 9 năm 2006, tại thủ đô Hà Nội.
Tòa án man rợ Cộng sản VN bịt miệng Linh mục Nguyễn Văn Lý.

Hoàng Sa&Trường Sa
Lực lượng Trung Cộng xâm lăng Hoàng Sa 1974
Tài liệu giá trị lich sử do Hải sư Thềm Sơn Hà sưu tìm.
Đại cương về Quần đảo Hoàng Sa 
Hình ảnh - Địa lý - Khí hậu - Vị trí chiến lược. 
Bài sưu tầm của Hải sư Thềm Sơn Hà
HQ10 đi vào lịch sử 
Trận Hải chiến 19/01/1974 chống Trung Cộng xâm lăng.
HQ5 và Hải chiến Hòang Sa 1974 
Hồi ký của Trương Văn Liêm
Biến cố Trường Sa tháng 2-1974
VNCH mở cuộc hành quân Trần Hưng Đạo 48 tại Trường Sa cuối tháng 1/1974 để cũng cố chủ quyền VN ngăn ngừa tham vọng bành trướng của Trung cộng lấn chiếm quần đảo Trường Sa

 

Tài liệu Hải Quân VNCH
Lực Lượng Đặc nhiệm 99
Một tài liệu sống thực để cho các thế hệ mai sau hiểu thêm về nỗi đau đớn của một cuộc tương tàn mà người Việt Nam dù Nam hay Bắc, đã không làm chủ được... 
Hình thành HQ/VNCH
Bài sưu tầm của Bảo Bình Nguyễn Văn Ơn
Sea Float Năm Căn
Chiến dịch Trần Hưng Đạo 4 bình định Năn Căn Cà Mau do Hải sư Trương Thanh Việt sưu tầm.


QUỐC GIA VIỆT NAM
(Quốc-Lễ Độc-Lập ngày 8 tháng 3)

Nguyễn-Văn-Ơn

1- TÓM LƯỢC BỐI CẢNH LỊCH SỬ TRONG NAM (từ tháng 3/1945 đến tháng 12/1946)
    Đêm 9 tháng 3 năm 1945, Nhật thi hành kế hoạch Meigo đảo chính Pháp, bắt giữ Toàn quyền Jean Decoux và kiểm soát toàn bộ lãnh thổ Việt-Nam. Vài ngày sau, Nhật đồng ý trả Nam-Bộ (Cochinchine) lại cho Triều đình Huế. Hoàng đế Bảo-Đại liền tuyên chiếu ngày 11 tháng 3 năm 1945, hủy bỏ Hiệp ước Bảo-Hộ Patenôtre với Pháp đồng thời tuyên bố Việt-Nam là một nước độc lập và bổ nhiệm Nguyễn-Văn-Sâm làm Khâm sai Nam-Kỳ.(1) Như vậy, từ nay trở đi, Hoàng đế Bảo-Đại đích thân cầm quyền để chỉnh đốn quốc gia vừa mới khôi phục lại chủ quyền – qua nội các Trần-Trọng-Kim – theo nguyên tắc “Dân vi quý ”(2).


Quốc-trưởng Bảo-Đại

    Trong khi đó, một số đảng phái và đoàn thể lớn trong Nam cũng xuống đường hô hào đoàn kết chống Pháp và thành lập Mặt trận Quốc-gia Thống nhất tại Saigon với Việt-Nam Quốc-Dân đảng, Hòa-Hảo, Cao-Đài, Tịnh độ Cư-Sĩ, Liên đoàn Công-chức, Thanh niên Tiền phong. Đến ngày 22 tháng 8 năm 1945, khi Mặt trận Việt-Minh (VMCS) xuất hiện tại thành phố Saigon thì tổ chức Thanh niên Tiền-phong do cán bộ CS Phạm-Ngọc-Thạch cầm đầu, xin gia nhập vào Mặt trận.
    Cùng ngày hôm đó tại kinh đô Huế, dưới áp lực của VMCS, vua Bảo-Đại phải tuyên chiếu thoái-vị và trở thành công dân Vĩnh-Thụy sau khi trao ấn ngọc, kiếm vàng cho Bộ trưởng Tuyên truyền VMCS là Trần-Huy-Liệu và phụ tá Cù-Huy-Cận.
    Đàng CSVN gọi đây là cuộc Cách mạng mùa Thu thành công do đảng CSVN độc nhất lãnh đạo hay cuộc Cách mạng tháng 8 cướp chính quyền do chính đảng CSVN đứng ra tổ chức, để cướp công nổi dậy của toàn dân. Cụm từ “cướp chính quyền của đảng CSVN” đã được báo chí VMCS là tờ Cứu-Quốc và Quyết-Chiến dùng ngay trong thời điểm này với mục đích tuyên truyền. Những sự kiện lịch sử trên đây khiến người dân Nam-Bộ không thể nào quên được cuộc nổi dậy Nam-Kỳ Lục-Tỉnh gần 5 năm về trước vào đêm 22 tháng 11 năm 1940. Mặc dầu thất bại, nhưng chính cuộc nổi dậy có tầm vóc này đã mở đường cho ngày cướp chính quyền của toàn dân 23 tháng 8 năm 1945. Đâu có phải một mình đảng CSVN đứng ra tổ chức như họ đã tuyên truyền, vì đây là lần đầu tiên VMCS công khai đấu tranh vũ-trang với thực lực còn yếu kém, nên dựa dẫm vào các đảng phái khác chớ chẳng thực sự đại-diện cho ai cả.
    Ngày 24 tháng 08 năm 1945, lợi dụng tình trạng vô chính phủ trong Nam, cán bộ CS Trần-Văn-Giàu (3) nắm gọn Lâm ủy Hành chánh Nam-Bộ và ra lệnh thành lập 4 sư đoàn Dân quân Nam-Bộ, trong đó ngành Cảnh sát Công an do cán bộ CS Nguyễn-Văn-Trấn (4) cầm đầu, với ngụy danh là Quốc gia Tự vệ cuộc. Tình hình chính trị lẫn quân sự trong những ngày đầu biến động dồn dập đến độ Giàu phải chia Lâm ủy Hành chánh làm đôi mới đủ sức khống chế: Phạm-Văn-Bạch làm chủ tịch Ủy ban Nhân dân còn mình giữ chức Ủy trưởng Quân sự. Nhưng rồi thành phố Saigon lại rơi vào cảnh hỗn loạn chưa từng thấy vào đêm 20 rạng 21 tháng 09 năm 1945. Trước sự chống đối và tranh quyền của các đảng phái, VMCS không thể nào kiểm soát trật tự thành-phố được nữa. Trong khi đó Pháp cũng muốn lấy lại quyền làm chủ thuộc địa, nhưng bất lực vì lính Pháp vẫn còn bị Nhật nhốt trong quân lao. Trước tình thế bất ổn như vậy, tướng Douglas D.Gracey, Tư lệnh sư đoàn 20 Anh, có nhiệm vụ giải giới quân Nhật đã đầu hàng Đồng-Minh ngày 15/08/1945, đành phải thiết quân luật tại thành phố Saigon, Gia-Định và tái vũ trang rồi thả ra khỏi trại tù hơn 1000 lính Pháp thuộc trung đoàn 11 bộ binh địa phương (11è RIC). Dưới sự chỉ huy khéo léo của Trung tá Rivier, đám lính Pháp sổng tù đã chiếm lại Saigon ngày 22/09/1945 khiến Ủy ban Nhân dân Nam-Bộ phải rút lui ra ngoài thành tiếp tục kháng chiến.
    Ngày 5 tháng 10 năm 1945, tướng Phillippe De Hautecloque Leclerc được Tổng thống De Gaulle cử làm Tư lệnh Lục quân Pháp tại Đông-Dương tuyên bố: “Nhiệm-vụ của quân Pháp bây giờ là phải tái lập trật tự Đông-Dương như trước kia ”. Kế đó Thủ tướng Anh Clement Richard Attlee bật đèn xanh cho De Gaulle bằng một công hàm (diplomatic note) mang nội dung là Đồng minh thuận để Pháp cai trị Việt-Nam từ vĩ tuyến 16 trở vào Saigon. Thế là Pháp chỉnh đốn hàng ngũ, tung quân ra tái chiếm Tây-Ninh ngày 9 tháng 10, Mỹ-Tho ngày 25/10, Gò-Công ngày 28/10, Vĩnh-Long ngày 29/10 và Cần-Thơ ngày 30 tháng 10 năm 1945. Đến ngày 5 tháng 2 năm 1946, Cao ủy Đông-Dương D’Argenlieu công bố Pháp đã ngự trị từ vĩ-tuyến 16 đến Cà-Mau.(5)
    Theo chỉ thị của chính phủ lâm thời Hồ-Chí-Minh là lực lượng VMCS phải rút ra “bưng” đánh du-kích chống Pháp, nhưng bộ đội trong Nam không mạnh như ngoài Bắc; còn dân quân trong những ngày đầu ô hợp, vũ trang cung nỏ, giáo mác và tầm vông vạt nhọn lại thiếu huấn luyện thì làm sao đối chọi với một quân đội chính quy. Cho nên Pháp chỉ cần vài cuộc hành quân “ruồng bố” nhỏ, cấp liên đại đội hay tiểu đoàn cũng đủ để càn quét và bình định mau chóng các bưng. Thực ra, lúc đó bưng mang tinh thần chống thực dân rất mãnh liệt, bừng bừng khí thế với những bài ca Lên Đường, Xuất Quân, Nhớ Chiến-Khu, Tiến Quân Ca… kích động tinh thần kháng chiến bất chấp vũ khí thô sơ của mình, quyết đem mạng sống đương đầu với địch.
    Sau những đợt “tổng ruồng bố” khốc liệt của Pháp, lực lượng kháng-chiến trong Nam cơ hồ tan rả. Hồ-Chí-Minh phải vội vàng sai tướng độc nhãn Nguyễn-Bình (6) theo Lê-Duẫn (7) vào Nam nắm giữ chức vụ Tư lệnh Liên khu 7 (8) để củng cố lại tổ chức VMCS. Trong thời gian nắm quyền quân sự, Nguyễn-Bình giải tán Mặt trận Liên-Hiệp thành lập ngày 20 tháng 4 năm 1946 gồm tất cả các đảng phái do ông Huỳnh-Phú-Sổ làm chủ tịch rồi xảo quyệt tìm cách thu phục mọi tổ chức chính trị và gieo tang tóc cho toàn thể Nam-Bộ đang lâm chiến. Nếu so sánh thì tội ác do Nguyễn-Bình gây ra không thua Trần-Văn-Giàu hay Nguyễn-Văn-Trấn bao nhiêu.

2- MỐI BANG GIAO GIỮA VIỆT-NAM VÀ PHÁP.
    Cho đến ngày chính phủ Hồ-Chí-Minh rút lên chiến khu Việt-Bắc, người ta thấy mọi thỏa hiệp giữa VMCS và Pháp từ trước cho đến nay chỉ có tính cách giai đoạn nhằm giải quyết quyền lợi cũng như ý đồ đen tối của đôi bên mà thôi, chứ không đáp ứng được nguyện vọng lâu dài của quần chúng. Hầu hết nội dung các thỏa hiệp cho thấy Pháp chỉ muốn tạm hòa hoãn để tìm cách tiêu diệt VMCS thì Hồ-Chí-Minh – con cờ của Đệ Tam Quốc-Tế CS – muốn kéo dài thời gian hưu chiến cũng chỉ để VMCS chỉnh đốn lại lực lượng, chờ nhận được ngoại viện từ Liên-Xô cho cuộc chiến trường kỳ. Cho nên, một khi VMCS còn đánh phá thì Pháp còn có lý do tiếp tục leo thang chiến tranh. Các chính trị gia cũng như giới truyền thông Pháp đều không tin tưởng vào các thỏa hiệp, và báo động quyền lợi mẫu quốc tại Đông-Dương đã đến hồi bị lung lay. Hơn nữa, cuộc hành quân LÉA ngày 7 tháng 10 năm 1947 vừa rồi lại thất bại, khiến Pháp nhận ra rằng tìm cho được giải pháp hòa bình để bảo vệ quyền lợi thuộc địa không phải là chuyện dễ dàng, khi mà lực lượng VMCS còn tồn tại.
    Một tháng sau ngày nhận định của chính giới, mặc dù đã rời khỏi chính trường từ 20 tháng 01 năm 1946 nhưng tiếng nói của nguyên Tổng thống De Gaulle vẫn còn có trọng lượng đối với chính phủ Paris trong việc chọn đúng đối tượng đàm phán. De Gaulle nhấn mạnh:“… về mặt liên tục lịch sử, nước Pháp phải xem cựu hoàng Bảo-Đại là người độc nhất có căn nguyên chính thống (Légitimate) của chủ quyền Việt-Nam thật sự, chứ không phải là Hồ-Chí-Minh”. Ký-giả nổi danh André Blanchet lập lại lời của De Gaulle trong bài chính luận sâu sắc trên báo Le Monde ngày 18 tháng 11 năm 1947, rằng: “Pháp nên trả lại nhiều quyền tự do cho Quốc gia Việt-Nam dưới sự lãnh đạo của Bảo-Đại để người dân thấy đất nước họ bây giờ thật sự độc lập mà ra sức phấn đấu bảo vệ chính nghĩa quốc gia của mình. Đây mới là giải pháp tốt nhất cho nền hòa bình lâu dài tại VN nói riêng và Đông-Dương nói chung”.
    Và cũng kể từ ngày này, cựu hoàng trở thành đối thủ chính trị quan trọng bậc nhất của Hồ-Chí-Minh. Bộ Thông tin tuyên truyền VMCS được lệnh tha hồ bóp méo lịch sử, bôi bẩn hạ uy tín Bảo-Đại không ngoài mục đích đưa Hồ-Chí-Minh lên ngôi độc tôn và độc quyền nói chuyện hòa bình với Pháp.
    Có lẽ vì những lý do chính đáng nêu trên đây mà Cao ủy toàn quyền Đông-Dương Emile Bollaert (1947-1948) đã đi đến quyết định không cần phải đàm phán với Hồ-Chí-Minh nữa. Sau đó Bollaert lại chịu khó mở nhiều cuộc đàm phán tại nhiều nơi với cựu hoàng đang sống lưu vong tại Hong-Kong (9) mong tìm được giải pháp khả thi cho đôi bên.
    Hiệp ước sơ bộ Vịnh-Hạ-Long ký kết giữa Bollaert và Nguyễn-Văn-Xuân ngày 5 tháng 6 năm 1948 thừa nhận nguyên tắc độc lập và thống nhất của nước VN đã dọn đường cho hiệp định chánh thức Elysée mà Quốc trưởng Bảo-Đại và Tổng thống Vincent Auriol ký đồng thuận ngày 8 tháng 3 năm 1949 để Quốc gia Việt-Nam ra đời.
    Trái lại, trước đây Hồ-Chí-Minh hết sức cầu cạnh Pháp bằng Thỏa-ước sơ bộ (Accords Preliminaires) ngày 6 tháng 3 năm 1946 rước quân Pháp, do tướng Leclerc chỉ huy, ra Bắc ngày 18 tháng 3 năm 1946 và chịu cho họ ở lại 5 năm phía trên vĩ-tuyến 16. Bởi lẽ biết mình là kẻ thừa hành dấu mặt của Đệ tam quốc tế CS và là một chính phủ cướp chính quyền chứ không do dân thực sự bầu ra, nên ông Hồ không dám đòi hỏi gì hơn ngoài hy vọng là Pháp cho phép tiến xa hơn bằng một hiệp định chánh thức ngõ hầu nước VNDCCH được các quốc gia dân chủ Tây phương công nhận. Nhưng sau 2 tháng thảo luận, hội nghị Fontainebleau (thuộc Seine et Marne) tan rả ngày 10 tháng 9 năm 1946. Phái đoàn VMCS thất vọng hồi hương, riêng Hồ-Chí-Minh còn nán lại đến đêm 14 tháng 9 năm 1946 lén lút vào tư dinh Bộ trưởng Hải ngoại Marius Moutet nài nỉ xin ký tạm ước Sống-Còn (Modus Vivendi) với Pháp, chấp nhận dễ dàng mọi điều kiện do đối phương đưa ra khiến cho nội các Thủ tướng Georges Bidault hết sức ngạc nhiên và rất xem thường cái gọi là chính phủ nước VNDCCH. Tại quốc nội, khi biết được sự thật trên đây, các đảng phái đều mạnh mẽ lên án việc ký kết ám muội cùng sự hoang phí hết số vàng trưng thu của dân chúng mang sang Pháp mà không đem về cho đất nước quyền lợi nào.
    Sau ngày hiệp định Elysée hình thành, ông Phạm-Văn-Bính nhân chứng diễn tiến đàm phán ghi lại trong hồi ký về lập trường cứng rắn của Bảo-Đại tại bàn thương thảo có đoạn như sau: “Với sự trợ lý đắc lực của các ôngTrần-Văn-Hữu, Bửu-Lộc và Vĩnh-Cẩn, bất chấp sự rào trước đón sau của phái đoàn Pháp, Quốc trưởng đã cương quyết đòi hỏi họ phải trả lại cho Quốc gia VN nhiều quyền lợi, trong đó tính độc lập và thống nhất đất nước (National Unity) được cựu hoàng luôn luôn đặt lên hàng đầu.”(10)
    Cựu lãnh tụ Việt-Nam Quốc-Dân đảng, Nghiêm-Kế-Tổ trong quyển ‘Việt-Nam Máu Lửa’ trang 153-154 cũng ca ngợi quyết tâm bảo vệ toàn vẹn lãnh-thổ của Bảo-Đại như sau: “Thiện chí đáng khen của nươc Pháp, sự nể trọng của họ đối với quyết tâm Bảo-Đại đánh dấu một bước tiến quan trọng trên đường đi tới độc lập thật sự cho VN. Cuộc đấu tranh giành độc lập trong tay người Pháp không phải là một việc làm dễ dàng… Bảo-Đại nói riêng, Elysée thành công là do công sức của toàn dân nói chung.”
    Theo quyển ‘Nguyễn-Phước tộc lược-biên’ năm 1942 của cụ Tôn-Thất-Cổn thì Bảo-Đại sinh ra được Thái phó (thầy dạy riêng Thái tử) Lê-Như-Lâm đào tạo ngay từ thuở bé để làm vua, chứ không phải để làm chính trị hay quân sự. Cá tính nhà vua vốn dĩ ôn hòa theo đường lối vương đạo của các đấng tiên đế, bằng học thuyết Chính Danh (danh có chính thì ngôn mới thuận) và chấp chính ngay từ lúc mớái 13 tuổi để rồi bị Pháp theo dõi hàng ngày như người đi đày. Do vậy mà trước năm 1945, Bảo-Đại làm sao hiểu được sách lược độc ác chia để trị của thực-dân: Nam-Kỳ Cochinchine thuộc địa năm 1867, Bắc-Kỳ Tonkin bảo hộ năm 1883 và Trung-Kỳ Annam tự trị năm 1883. Nhờ giai đoạn lưu vong hải ngoại sau này mà Con Rồng VN có thời gian suy ngẫm, thấm được nỗi đau đất nước bị chia cắt nên phản ứng quyết liệt tại hội nghị là nếu Pháp cố tình tách Nam-Kỳ ra khỏi Việt-Nam thì Elysée coi như bị khai-tử.
    Trong quyển Le Dragon d’Annam, trang 222, Bảo-Đại cũng thú nhận rằng mình rất thật tâm muốn liên hiệp chính trị với VMCS ngay từ những ngày đầu để quốc dân được hưởng thái bình. Nhưng cựu hoàng thức tỉnh khi nghe Hồ-Chí-Minh trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn Độc-lập  có nhiều đoạn dịch từ bản Tuyên ngôn Độc lập của Hiệp-Chủng-Quốc Hoa-Kỳ ngày 4 tháng 7 năm 1776 mà chắc chắn là Ông Hồ không thể nào hiểu thấu được tinh thần chính trị John Locke (lý thuyết gia chính trị người Anh thế kỷ 17) ở trong đó (xin xem Michel Mc Lear – The ten thousand day war VN – St.Martin Press 1981, trang 12) và Stanley Karnow, Vietnam a history, NY 1983, trang 141 ghi: “Hồ Chí-Minh quoted the American Declaration of Independence, the text of which had been supplied to him by Major Archimedes Patti”). Nhất là sự kiện công dân Vĩnh-Thụy không chịu ra ứng cử mà lại đắc cử 92% số phiếu bầu đại biểu Quốc hội 1946 tại Thanh-Hóa, khiến ông cố vấn chính trị bất đắc dĩ Vĩnh-Thụy quá bực bội phải đi đến kết luận Hồ-Chí-Minh là một người trí trá quỷ quyệt, chuyên môn lừa dối trên chính trường. Cái thực tâm hợp tác của cựu hoàng không thể nào hòa điệu với cái duy ngã độc tôn của ông Hồ được. Thôi đành tìm cách thoát cũi xổ lồng càng sớm chừng nào càng tốt chừng nấy (11).
    So sánh thủ đoạn chính trị giữa Hồ-Chí-Minh và Bảo-Đại trong thời kỳ tranh giành ảnh hưởng độc quyền thương thuyết với Pháp, người ta thấy có sự khác biệt rõ rệt về tâm lý chiến. Hồ-Chí-Minh lúc nào cũng ra lệnh cho đạo quân Chiến tranh Chính trị VMCS tận dụng mọi chiêu thức bôi bẩn để hạ uy tín đối phương, ngược lại Bảo-Đại quá tin tưởng vào học thuyết Chính-Danh của mình, không ý thức được tầm quan trọng đánh phá của đạo quân thứ 5/VMCS. Cho đến khi thấy rõ được sự thua thiệt lớn trong việc giành dân giữ đất với đối phương, Bảo-Đại mới chỉ thị cho Thủ tướng Nguyễn-Văn-Tâm ban hành nghi định số 65/Cab/Press ngày 8 tháng 10 năm 1952 thành lập Nha Chiến tranh Tâm lý do Phó Thủ tướng Lê-Văn-Hoạch điều hành thì đã quá trễ!
    Vừa thoát khỏi ách Liên-Bang Đông-Dương nay lại bị ràng buộc vào quỹ đạo cộng tồn Liên-Hiệp-Pháp, nhưng với quyết tâm tạo dựng một quốc gia độc lập, toàn vẹn lãnh thổ, nhiều khi Bảo-Đại khá cứng rắn đến độ chính giới Pháp phải la lên: “Bảo-Đại bất cần chúng ta rồi”.(12) Điển hình là Hiệp định Elysée thành công mỹ mãn mà Bảo-Đại vẫn chưa chịu hồi loan, khiến cho cựu Cao ủy Đông-Dương Bollaert và Cao ủy đương nhiệm Pignon đều đôi lần tiếp cận đề nghị sẵn sàng cung cấp phi cơ riêng cho phái đoàn cựu hoàng mau về nước chấp chính. Mặc, Bảo-Đại cương quyết từ chối với lý do là Nam-Kỳ chưa được hội nhập vào Quốc gia VN. Đây cũng là thông điệp cuối cùng của cựu hoàng bảo Pháp phải dứt khoát nhả Nam-Kỳ ra. Cũng theo hồi ký của ông Phạm-Văn-Bính thì cựu hoàng không phải là người dễ dàng chịu chấp nhận mọi đề nghị của Pháp. Quốc trưởng chỉ đồng ý vấn đề khi có sự tương nhượng hợp lý, hợp tình qua thương thảo giữa đôi bên và chưa bao giờ đưa ra hoặc cho phép bất kỳ một giải pháp nào mang tên mình cả. Sử gia Stanley Karnow trong quyển Vietnam a history. Viking NY 1983, trang 190, cũng ghi lại lời phản đối của cựu hoàng “ What they call Bao-Dai solution turns to be just a French solution! ” Như vậy, thuật ngữ “Giải pháp Bảo-Đại hay giải pháp Bù Nhìn” mà báo chí thân đảng CS Pháp và các nhà chính trị thiên tả độc ác Paris (Les intellectuals de la rive Gauche) tung ra, rồi được báo chí VMCS lập lại, hoàn toàn không đúng với người và việc thuộc bối cảnh lịch sử lúc đó. Ngay cả Toàn quyền Đông-Dương kiêm Tổng tư lệnh quân đội Viễn-Chinh bấy giờ là Thống tướng De Latrre cũng thận trọng, tránh sử dụng cụm từ này (13). Không biết cân nhắc thiệt hơn như thế nào mà cựu Đại-sứ Bùi-Diễm (đảng viên Đại-Việt), khi viết hồi ký ‘In the jaws of history’ – Paris 2001 (Trong gọng kìm lịch sử), đã ghi “Bao-Dai solution ” chần vần ở chương 9. Sự nhầm lẫn quá nghịch lý của tác giả không những đã làm giảm giá trị Hiệp định Elysée mà còn tạo thêm cơ hội cho các sử gia Cộng-Sản hư cấu tuyên truyền làm lệch lạc dòng chính sử, vì người dân ít ai biết đến nội dung Hiệp định này chứa đựng những gì thì làm sao phân biệt được đúng với sai. Có thể nói, dụng ý của thuật ngữ trên hoàn toàn phản bác câu nói khí khái của nhà vua cuối cùng triều đại nhà Nguyễn, trong giây phút thoái vị ngày 24 tháng 8 năm 1945: “Trẫm ưng làm dân một nước độc lập, hơn làm vua một nước nô lệ”. Sau này, Nhất-Linh Nguyễn-Tường-Tam (Đại-Việt và Việt-Nam Quốc-Dân đảng, cựu Bộ trưởng Ngoại-Giao của chính phủ Liên hiệp Hồ-Chí-Minh) cũng có cái nhìn trung thực về Elysée, phát biểu: “Chúng ta không nên gán ghép cho Bảo-Đại bất cứ nhãn hiệu gì. Việc làm của ông ấy sẽ được lịch sử công bằng phán quyết…”
    Ngày 24 tháng 4 năm 1949, sau nhiều ngày tranh luận sôi nổi, hội nghị Nam-Kỳ (Assemble territorial de Cochinchine) đi đến biểu quyết với đại đa số phiếu thuận cho Nam-Kỳ tái hội nhập vào Việt-Nam. Được tin này, phái đoàn Bảo-Đại ăn mừng bất cần Quốc hội Pháp có đồng ý hay không (cho đến ngày 3 tháng 6 năm 1949 Pháp mới thuận), vội lên đường về nước với niềm tin là Chính phủ Quốc gia Việt-Nam do Quốc trưởng Bảo-Đại kiêm Thủ tướng lãnh đạo sẽ được toàn dân tin yêu cũng như thu hoạch nhiều thắng lợi mới.
    Tại Saigon, tòa Đô-Sảnh treo cờ vàng 3 sọc đỏ ngày 14 tháng 6 năm 1949 để chào mừng Quốc trưởng Bảo-Đại và Cao ủy Pignon trao đổi những văn kiện về Hiệp định Elysée. Trong lời hiệu triệu quốc dân, Quốc trưởng Bảo-Đại tạm giữ danh hiệu Hoàng đế để có môt địa vị quốc tế hợp pháp cho đến khi quốc dân quyết định về hiến pháp sau này: “Je garde provisoirement le titre d’Empereur afin d’avoir une position internationale legale, mais peuple décitera de sa constitution – VN Press, Sài-Gòn 15 tháng 6 năm 1949”.
    Học giả Cao-Thế-Dung đã có nhận định chung về vị nguyên thủ QGVN như sau: “Trước khi về đến Đà-Lạt, Bảo-Đại giữ được tư cách của một vì vua, nhất là khi ông đến Tân-Gia-Ba (Singapore) đã được chính phủ Anh chào đón tại phi trường với nghi lễ quân cách dành cho một vị quốc trưởng ”(14).

3- QUỐC GIA VIỆT-NAM
    Nội các Bảo-Đại (Quốc trưởng kiêm Thủ tướng QGVN) được thành lập ngày 1 tháng 7 năm 1949 bằng sắc lệnh số 1-CP, kèm theo 3 Đạo-Dụ căn bản được công bố:
        - Tổ chức điều hành cơ quan công quyền ( khi chưa có Hiến pháp).
        - Ấn định qui chế chính quyền địa phương và triệu tập quốc hội tạm thời.
        - Lấy ngày 8 tháng 3 hàng năm làm ngày Quốc lễ Độc lập (kỷ niệm ngày Hiệp định Elysée) (15).
    Như vậy, chỉ trong vòng 5 năm (1949-1954), Bảo-Đại với cương vị Quốc trưởng VN đã đem lại nền thống nhất cho đất nước, mặc dầu chỉ trên danh nghĩa. Ngoài ra, Bảo-Đại cũng đã thu hồi đầy đủ quyền hành từ trong tay người Pháp và tạo lập riêng được một quân đội QGVN do người Việt-Nam chỉ huy. Với thành quả này, trên bán đảo Đông-Dương, QGVN là một chính phủ duy nhất được cộng đồng quốc tế (ngoại trừ khối Cộng) kể cả Hội đồng Bảo an Liên-Hiệp-Quốc với tứ cường Anh, Pháp, Mỹ và Trung-Hoa Quốc-Gia đều thừa nhận (Cao-Thế-Dung, Dân-tộc 1 – USA ngày 21/11/2002, trang 11).


Tháng Giêng 1951, đông đảo thanh niên yêu nước gia-nhập quân-đội để bảo-vệ QG VN

    Tại Việt-Nam, phải chăng vì theo khuynh hướng ‘chống Bảo-Hoàng’ mà một số học giả, sử gia đương thời ít nhiều chịu ảnh-hưởng của André Gide, Jean Paul Sartre… đã không công bằng khi dùng dao to búa lớn đánh phá Bảo-Đại không nương tay. Họ chỉ biết phá hoại chứ không đưa ra được một kế hoạch nào khả-dĩ xây dựng lại tổ quốc đang cơn lâm nạn Thực dân và Cộng sản. Đến khi đất nước bị chia đôi, họ cương quyết trụ lại miền Bắc và ra sức ca ngợi nhà nước VNDCCH đang bần cùng hóa người dân; những tưởng rồi đây họ sẽ được liệt vào hàng thân sĩ khai quốc công thần, nhưng có ngờ đâu Hồ chủ tịch lại cho họ là lũ theo gió phất cờ rồi loại bỏ họ không chút tiếc rẻ.
    Thực tế lúc đó, ngoài Bảo-Đại ra thử hỏi còn có vị lãnh đạo nước Việt-Nam nào khác được luật pháp Quốc gia và công pháp Quốc tế đều thừa nhận, sau khi Quốc trưởng tuyên bố ngày 14 tháng 6 năm 1949 thủ tiêu hoàn toàn chế độ thuộc địa kìm kẹp do các hòa ước năm 1862, 1874 và 1884. Hơn nữa, cựu hoàng với ưu thế ‘người chính thống duy nhất’ đại diện cho quốc gia VN, được chính phủ Pháp trao trả độc lập cùng sự toàn vẹn lãnh thổ, nên có chính nghĩa cùng nghĩa vụ tiếp tục tôn trọng Công ước Quốc tế 1887 và 1895 về biên giới Việt-Hoa mà cách đó trên 60 năm cả hai nước láng giềng đều chấp nhận. Nền Đệ nhất và Đệ nhị VNCH sau này thừa kế chế độ QGVN, do đó chính nghĩa quốc gia rất thuận lý. Còn nhà nước VNDCCH, và sau tháng 4 năm 1975 là Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam(CHXHCNVN) thì tuyệt đối không có quyền thừa kế nói trên, mà chỉ là ngụy quyền hay một bạo quyền cướp nước thôi.
    Điều đáng nói là trong 3 năm sau cùng lãnh đạo quốc gia, Bảo-Đại không còn phải ngụy trang đi săn, đi câu hay chơi thể thao hoặc ẩn dật trong biệt điện như trước kia để tránh những con mắt cú vọ rình rập của Pháp nữa. Quốc trưởng đã dành khá nhiều thời gian để kinh lý ngoài Bắc cũng như trong Nam, kể cả những tiền đồn hẻo lánh đầy nguy hiểm như Na-San, Điện-Biên-Phủ… với mục đích kiện toàn hành chánh và quân-sự trong vùng giao tranh.

     Nhờ cách tác động trực tiếp tinh thần quần chúng phối hợp với chính nghĩa sáng ngời mà Bảo-Đại được thần dân ngưỡng mộ trở lại; các đảng phái, ngoại trừ đảng CSVN, đều đồng thanh “vâng thánh ý”… chẳng hạn như Hộ pháp Phạm-Công-Tắc sẵn sàng đưa giáo-phái Cao-Đài ra Bắc tham chiến, nếu nhận được chiếu thư. Đây cũng là động cơ chính thức thúc đẩy mọi tầng lớp thanh niên yêu nước, kể cả giới trí thức, tập hợp đông đảo dưới lá cờ QGVN tình nguyện phục vụ từ các cơ quan công quyền đến mọi quân binh chủng Hải, Lục và Không quân.
    Tóm lại, mặc dầu QGVN chỉ tồn tại vỏn vẹn có 5 năm, nhưng lại là cái gạch nối rất quan trọng và cần thiết cho hai nền Đệ I và Đệ II VNCH kế tục hơn 19 năm về sau. Vì vậy, khi nhắc đến cuộc chiến 30 năm tại Việt-Nam chắc các sử gia không thể nào quên được vị vua cuối cùng của triều đại nhà Nguyễn – Bảo-Đại – cũng là lãnh tụ quốc gia khai nguyên cho nền Cộng-Hòa tại Việt-Nam qua thể chế QGVN với ngày quốc khánh mùng 8 tháng 3. Không phải mãi đến đầu thế kỷ thứ 21, chỉ có người sưu tập sử liệu (không thuộc hệ phái Bảo-Hoàng) ghi lại những hàng trên đây, mà ngay khi cựu hoàng mới qua đời, Pháp tấn xã AFB ngày 1 tháng 8 năm 1997 cũng đã loan báo cựu hoàng Bảo-Đại vừa mãn phần trong bản tin buổi sáng, kèm theo lời nhắc khéo các sử gia: “Lịch-sử nên dành cho cựu hoàng Bảo-Đại một chỗ, vì dù sao đi nữa thì cựu hoàng cũng là Hoàng đế cuối cùng của triều đại Nguyễn-Phước. Hơn nữa, lịch sử không thể nào chối bỏ việc làm tròn chức năng của một nguyên thủ quốc gia có tấm lòng đầy nhân ái như Bảo-Đại trong giai đoạn cực kỳ khó khăn, khi Việt-Nam đang chuyển mình từ chế độ Quân chủ chuyên chế sang nền dân chủ Cộng-Hòa. Với bối cảnh đất nước có chiến tranh triền miên, đã thoái vị mà Bảo-Đại vẫn còn được thần dân tin tưởng quả là một điểm son trong lịch sử vậy.”

___________________________

CHÚ THÍCH:
(1)  Bảo-Đại là Đế hiệu của Hoàng đế thứ 12 và cũng là vị vua cuối cùng của Triều đại 150 năm nhà Nguyễn. Con trai duy nhất của vua Khải-Định (1916-1925), Nguyễn-Phước Vĩnh-Thụy sinh ngày 22/10/1913 tại Huế, lên ngôi vua ngày 08 tháng 01 năm 1926 mới có 13 tuổi, sau khi vua cha băng hà ngày 06 tháng 11 năm 1925.
Do sự áp chế của Hòa ước Bảo-Hộ Patenôtre, trong thời gian vua Bảo-Đại du học tại Pháp cho đến ngày tốt nghiệp đại học PO, việc triều chính được thừa ủy nhiệm cho Phụ chính Đại thần (có sách nói là Thân thần) Tôn-Thất-Hân đảm trách. Hoàng đế Bảo-Đại hồi loan và thật sự nhiếp chính 13 năm (1932-1945) trong 19 năm làm vua (1926-1945).
Sau biến cố tháng 8 năm 1945, vua Bảo-Đại thoái vị và trở thành cố vấn cho chính phủ lâm thời Hồ-Chí-Minh. Nhờ dịp may hiếm có, Bảo-Đại vượt thoát và sống lưu vong tại Hong-Kong. Đến năm 1947, Pháp thấy không thể nói chuyện hòa bình với Hồ chủ tịch không có chính nghĩa được nữa mới đổi hướng sang ve vãn cựu hoàng và hứa trả độc-lập lại cho VN làm cho giấc mộng thu hồi đất nước với sự toàn vẹn lãnh thổ của Con Rồng VN bừng sống trở lại. Sau nhiều đợt đàm phán thật gay go, Bảo-Đại thành công trong thương thảo hiệp định chính thức tại điện Elysée ngày 08 tháng 03 năm 1949 và trở về nước thành lập nội các ngày 01 tháng 07 năm 1949 để Quốc gia Việt-Nam được ra đời, chọn ngày 08 tháng 03 làm ngày Quốc lễ Độc lập.
Lịch sử Việt-Nam đã sang trang sau khi Pháp thua VMCS trận Điện-Biên-Phủ (7/5/1954), Quốc trưởng Bảo-Đại chỉ định chí sĩ Ngô-Đình-Diệm về nước lập chính phủ ngày 16 tháng 6 năm1954. Rồi ông Diệm được dân bầu làm Tổng thống trong cuộc trưng cầu dân ý lật đổ Quốc trưởng Bảo-Đại, thành lập nền Đệ I Việt-Nam Cộng-Hòa  ngày 26 tháng 10 năm 1955. Kể từ sau ngày này, cựu hoàng ở lại Pháp và băng hà ngày 31 tháng 07 năm 1997 tại Paris, hưởng thọ 84 tuổi.
Lúc sinh tiền, cựu hoàng có viết 2 tác phẩm bằng Pháp văn, được hoàng tộc Nguyễn-Phước dịch ra Việt văn là quyển ‘Con Rồng Việt-Nam’ năm 1980 và quyển ‘Cấm Thành Huế’ năm 1995.
Về đời tư, vua Bảo-Đại và Nam-Phương hoàng hậu (húy Nguyễn-Hữu-Thị-Lan, sinh ngày 04 tháng 12 năm 1914, tấn cung năm 1934, từ trần năm 1963) sinh được 2 hoàng tử và 3 công chúa. Sau khi bà Nam-Phương qua đời, cựu hoàng chính thức thành hôn với công nương Monique – một phụ nữ Pháp – bà này kề cận bên Bảo-Đại cho đến ngày ông ta mãn phần. Trong tang lễ, ngoại trừ hệ phái hoàng tộc, còn có một số đông chính giới Pháp tham dự như Bộ trưởng Ngoại giao Bernard Ennier, Bộ trưởng Hợp tác kiêm chủ tịch cựu-chiến-binh Đông-Dương Michel Hosin.
Nhắc lại Hòa ước Patenôtre ngày 06 tháng 06 năm 1884, với nội dung tóm lược là Vương quốc An-Nam chỉ mất quyền ngoại giao, còn quyền nội trị và binh bị vẫn được giữ. Nhưng ngay khi vua Khải-Định mất, Pháp bức ép Phụ chính Đại thần phải ký thỏa hiệp thư quái ác là giao toàn quyền quyết định quốc gia lại cho Pháp. Thành thử vua Bảo-Đại trẻ tuổi, tốt nghiệp đại học PO, từ Pháp trở về muốn canh tân xứ sở bằng đường lối cấp tiến theo triết lý tây phương cũng đành bó tay, âm thầm phẩn uất và trở thành một ông từ giữ chùa kể từ năm 1932.
(2) Đoàn-Thêm – Hai mươi năm qua,việc từng ngày(1945-1964). Saigon 1966, trang 4.
Trần-Văn-Giàu, trí thức miền Nam, cựu du học sinh ở Pháp
       bị đuổi và là cán-bộ Cộng-sản nồng-cốt trong thời gian cướp chính-quyền tại Saigon. Cái gọi là Lâm ủy hành chánh Nam-Kỳ do Giàu đứng đầu có thêm các đồng chí CS trợ lực như Dương-Bạch-Mai, Nguyễn-Văn-Tạo, Nguyễn-Văn-Trấn, Phạm-Ngọc-Thạch, Huỳnh-Văn-Tiểng và Ngô-Tấn-Nhơn. Trong thời kỳ hỗn loạn này, Giàu làm nhiều việc rất tàn bạo nổi tiếng ác đứng đầu nhóm “Tứ Hung: Giàu, Mai, Tạo, Trấn” để nắm quyền chủ động và trấn áp quần chúng theo lệnh của đảng. Đến lúc Pháp chiếm lại Saigon Gia-Định, Giàu chạy thoát ra bưng rồi tập kết ngoài Bắc 1954. Sau này, mặc dù được đi tu nghiệp tại Liên-Xô gần 2 năm, nhưng Giàu cũng bị Hồ-Chí-Minh loại ra khỏi guồng máy chỉ huy của đảng CSVN, vì nguồn gốc tư sản của gia đình Giàu chưa được gột rửa tận gốc.
(4) Cũng là du học sinh ở Pháp bị đuổi khỏi khóa như Giàu, nhưng Nguyễn-Văn-Trấn tức Bảy-Trấn Chợ-Đệm cố công theo đuổi đảng cho đến ngày miền Bắc thôn tính miền Nam. Ký giả tiền chiến Bảy-Trấn nhập đảng CSVN vào những ngày đầu Cách mạng Mùa-Thu nên được đảng tin cẩn giao cho quyền sinh sát trong tay là Trưởng ngành Công an Cảnh sát Thành phố Saigon. Trong chức vụ này, Trấn và Cao-Đăng-Chiếm tức Sáu Hoàng (Thứ trưởng Công an của chính phủ Hồ-Chí-Minh) tổ chức ám sát Khâm sai Nguyễn-Văn-Sâm ngay giữa ban ngày trong thành phố để khủng bố tinh thần các đảng phái khác.
Đến năm 1985, các văn nghệ-sĩ được đảng tạm thời cởi trói chút đỉnh, Bảy Trấn bất mãn từ lâu được dịp thổ lộ tâm tình qua cuốn “Viết gửi Mẹ và Quốc hội” để nói lên cái ‘đại ngu’ của cán bộ Mùa-Thu, trong đó có Trấn, hết lòng theo đảng mà vẫn bị vắt chanh bỏ vỏ không thương tiếc..
(5) Đoàn-Thêm – Tài-liệu đã dẫn, trang 15 và 19.
(6) Ng(uyễn-Bình tên thật là Nguyễn-Phương(Thông)-Thảo, cựu đảng viên Việt-Nam Quốc-Dân đảng được theo học trường võ bị Hoàng-Phố. Trong thời gian bị Pháp lưu đày ra Côn-Đảo, Bình từ bỏ Việt-Quốc để gia nhập đệ III CS quốc tế nên bị các đồng chí cũ đánh hội chợ làm chấn thương mắt trái vĩnh viễn, do đó được các đảng phái trong Nam tặng cho biệt danh là ‘Tướng Độc Nhản’.
Ngoài Bắc, khoảng tháng 07 năm 1945, Bình được chỉ huy một đơn-vị VMCS tại Móng Cái đương đầu với Sư đoàn Sao-Trắng (Đại-Việt Quốc-Dân đảng) do Vũ-Kim-Thành làm tư lệnh. Đầu năm 1946, theo lệnh của Hồ chủ tịch, Bình nhập phái đoàn Lê-Duẫn vào Nam, tiếp thu chức Trưởng khu bộ 7. Những ngày sau đó, Bình từng bước tàn độc thu phục hoặc loại bỏ các đảng phái không theo CS của Mặt trận Quốc gia Liên hiệp trong Nam bấy giờ là:
-  Cao-Đài do Trịnh-Minh-Thế chỉ huy tại Đồng-Lớn (biên giới Việt-Miên).
-  Hòa-Hảo do giáo chủ Huỳnh-Phú-Sổ lãnh đạo ở miền Tây. Nguyễn-Bình diệt Huỳnh giáo chủ rồi chỉ định Huỳnh-Văn-Trí tức Mười Trí (Bình-Xuyên) thay thế.
- Việt-Nam Quốc-Dân đảng do Phạm-Hữu-Đức đứng đầu.
- Đại-Việt Quốc-Dân đảng do Trương-Tử-Anh điều khiển.
- Bình-Xuyên do Dương-Văn-Dương tức Ba Dương làm Tư-lệnh
    Từ chức vụ Ủy viên Quân sự Nam-Bộ, Bình leo lên Phó chủ tịch Ủy ban Hành kháng Nam-Bộ chỉ trong thời gian ngắn. Mặc dù bị Bùi-Hữu-Phiệt và Vũ-Tam-Anh ám sát hụt, Bình vẫn không từ bỏ tham vọng gồm thâu tất cả lực lượng kháng chiến trong Nam vào tay mình. Đầu năm 1948, Bình được Hồ chủ tịch thăng cấp Trung tướng (chung danh sách với Võ-Nguyên-Giáp). Lo sợ ảnh hưởng xấu của Bình lấn áp quyền lực mình, Duẫn ra lệnh cải tổ Ủy ban Hành kháng Nam-Bộ để loại Bình ra khỏi hệ thống chỉ huy của Trung ương Cục miền Nam, với thành phần mới như Dương-Quốc-Chính (Tư lệnh), Lê-Duẫn (Chính ủy), Trần-Văn-Trà (Tư lệnh phó), Lê-Đức-Anh (Tham mưu trưởng).
Giữa tháng 10 năm 1951, Duẫn ra lệnh cho Bình lên đường về Bắc nhận chỉ thị của Hồ chủ tịch. Ngày 27 tháng 10 năm 1951 tại Phum-Sre-Pock (làng Cao-Miên), Duẫn mượn tay lính Pháp bắn chết Bình để thanh trừng một sứ quân cát cứ mà Duẫn biết rằng khó lòng uốn nắn hắn ta theo đường lối của đảng sau này, nên thà giết lầm còn hơn là nuôi ong tay áo.
(7) Lê-Duẫn sinh ngày 07 tháng 04 năm 1908 tại Quảng-Trị trong một gia-đình nông dân nghèo, theo học hết chương trình tiểu-học địa phương rồi làm việc cho Nha Hỏa Xa. Duẫn được xem là một trong những thành viên sáng lập ra đảng Cộng-Sản Đông-Dương vào năm 1930, tiền thân của đảng Cộng sản Việt-Nam sau này. Trong thời gian hoạt động chống Pháp, Duẫn bị bắt đày ra Côn-Đảo 2 lần (1931-1936 và 1940-1945). Cũng tương-tự như trường-hợp của Trường-Chinh, chính nhà tù đã giúp Duẫn thấm nhuần chủ thuyết cộng sản không tưởng hơn là trường học. Kể từ lần ra tù lần thứ hai cho đền ngày đất nước bị chia đôi, Duẫn trở thành lý thuyết gia cộng sản trong Nam và hoàn toàn hoạt động với mặt trận VMCS trong Nam; chẳng hạn như vào năm 1952, Duẫn đặc trách trực tiếp chỉ huy lực lượng vũ trang đồng bằng Cửu-Long, nên không tham dự chiến trận ngoài Bắc.
Sau ngày “Cải cách ruộng đất thất bại”, Duẫn được Hồ-Chí-Minh điều về Bắc thế cho Trường-Chinh và trở thành nhân vật quyền lực số 2 của nước VNDCCH. Năm 1959, Duẫn lại bí mật trở vô Nam đặt kế-hoạch cho giai đoạn chiến tranh phá hoại khủng bố để dọn đường cho Mặt trận Giải phóng miền Nam ra đời. Duẫn được bầu làm Tổng bí thư đảng CSVN năm 1960, trở thành người có quyền lực cao nhất nước khi Hồ-Chí-Minh qua đời năm 1969. Lúc còn sống, chính sách của ông Hồ là đu dây giữa hai đàn anh vĩ đại Trung-Cộng và Liên-Xô. Nhưng khi nắm quyền lãnh đạo, Lê-Duẫn chỉ cầu cạnh cái nôi Cộng-Sản Liên-Xô cho đến ngày thôn tính miền Nam xong và ký hiệp ước thần phục Liên-Xô năm 1978. Duẫn mất tại Hà-Nội vào tháng 07 năm 1986 trong lúc nội bộ đảng CSVN bắt đầu mầm móng chia rẻ, khi mà tư tưởng vô địch Marx-Lenin không còn được các lý thuyết-gia Cộng-Sản nhất quán nữa.
(8) Theo tài liệu “Lịch sử Quân đội Nhân dân”, Hà-Nội 1997, trang 234 thì sắc lệnh tháng 11/1946 của chính phủ Hồ-Chí-Minh chia đất nước Việt-Nam thành 9 Liên khu. Những Liên khu trong Nam có tầm quan-trọng là:
- Liên khu 7 gồm các tỉnh Bà-Rịa, Biên-Hòa, Thủ-Dầu-Một, Tây-Ninh và Miền Đông Nam-Bộ kể cả Saigon và Gia-Định.
- Liên-khu 8 gồm các tỉnh Tân-An, Gò-Công, Mỹ-Tho, Sa-Đéc, Vĩnh-Long, Trà-Vinh và Bến-Tre.
- Liên-khu 9 gồm các tỉnh Châu-Đốc, Long-Xuyên, Hà-Tiên, Cần-Thơ, Sóc-Trăng, Bạc-Liêu và Rạch-Giá.
(9) Cũng trong hồi ký “Một người biết quá nhiều” của ông Phạm-Văn-Bính đăng feuilleton trên báo Le Monde tháng 02/1949 có kể lại dịp may vượt thoát của cựu hoàng Bải-Đại tóm dịch như sau: “Thống chế Tưởng-Giới-Thạch, người bảo trợ lâu dài cho các chính đảng ở Việt-Nam truớc đây, mời phái đoàn nước VNDCCH sang để giải quyết đường lối chính trị đang lục đục trong nước. Đầu tháng 03 năm 1946, Hồ-Chí-Minh chỉ định đồng chí Nguyễn-Đức-Thụy (chuyên viên dịch kinh điển của Mao cho đảng CSVN) làm trưởng-đoàn gồm 6 người, trong đó có Vĩnh-Thụy (Bảo-Đại), Nghiêm-Kế-Tổ (VNQD đảng, Thứ-trưởng Ngoại-giao) đến Trùng-Khánh vào khoảng cuối tháng. Nhờ dịp may hiếm có này mà Bảo-Đại trốn thoát ở lại Hong-Kong. Riêng trưởng đoàn Nguyễn-Đức-Thụy, mặc dù có ấn tín đầy đủ của Hồ chủ tịch, cũng bị Trung-Hoa Quốc-Dân đảng nghi ngờ làm gián điệp cho Mao bắt giam đến chết ở Tĩnh-Tây. Trong hồi ký In the Jaw of history, tác-giả Bùi-Diễm lại lầm lẫn ghi cựu hoàng làm trưởng đoàn. Sự sai lạc này rất dễ hiểu vì có 2 người cùng trùng tên Thụy trong đoàn.
(10) Đoàn-Thêm – Tài liệu đã dẫn, trang 45 ghi nhận:
“La France reconnaitre solennellement l’indépendence du VN, à qui il appartient de réaliser son unité.Le VN proclame son adhésion en qualité d’Etat Associé, à l’Union Francaise. L’indépendence du VN n’a d’autres limites que celles imposées par son appartenance à l’Union Francaise.”
Ông Phạm-Văn-Bính, còn được báo chí thời đó gọi là chánh văn phòng hải ngoại của Bảo-Đại, đã đăng Feuilleton hồi ký: “Một người biết quá nhiều” trên báo Le Monde từ tháng 1 đến tháng 3/1949 để ủng hộ cựu hoàng đang dự hội nghị Elysée. Một mình ông Bính lì lọm, đơn phương dùng ngòi bút đánh trả lại phe Cộng-Sản hung hãn mạt sát ông ta là nô tì hoàng gia. Dưới thời Thủ tướng Trần-Văn-Hữu, nghị sĩ Phạm-Văn-Bính giữ chức Bộ trưởng Thanh niên Thể thao (1951-1952) và Thủ hiến Bắc-Việt (1952-1953).
(11) Sau lần cuối cùng gặp lại cựu hoàng tại Hong-Kong vào năm 1948, Lệ-Thần Trần-Trọng-Kim có ghi lại thái độ của Bảo-Đại đối với Hồ-Chí-Minh, người đã ép nhà vua phải thoái vị, trong phần cuối thiên hồi ký ‘Một Cơn Gió Bụi’, tóm lược như sau: 
Ngày 19 tháng 05 năm 1946, Cao ủy Đô đốc D’Argenlieu tới thăm Hà-Nội. Để long trọng chào đón vị quốc khách bằng một rừng cờ đỏ sao vàng, ông Hồ bịa ra ngày đó là ngày sinh của mình và ra lệnh cho nhà nhà phải treo quốc kỳ. Vẫn thái độ từ tốn, ôn hòa cố hữu, cựu hoàng nhận định Hồ chủ tịch là “người muôn mặt” thì làm sao có được ngày sinh thật sự của mình và chúng mình già trẻ lớn bé đều mắc lừa du côn.
Ngược lại 180 độ, Hồ-Chí-Minh luôn luôn tự hào rằng mình khiêm tốn hơn Bảo-Đại gấp trăm lần, thể hiện trong quyển “Những Mẫu Chuyện về Đời Hoạt Động của Hồ Chủ Tịch” mà tác-giả là Trần-Dân-Tiên tức Hồ-Chí-Minh dấu tên. Đây là quyển truyện mà ông Hồ viết để tự khen mình là người khiêm tốn vô cùng. Lịch sử Việt-Nam đã thực sự chứng minh ông Hồ-Chí-Minh với bản chất Cộng-Sản duy ngã độc tôn đầy sắt máu ngay từ khi bản nhạc ‘Tiến Quân Ca’, rừng rú dã man “thề phanh thây uống máu quân thù” của Văn-Cao ra đời làm Quốc ca thì làm gì có chuyện bác Hồ là người khiêm tốn được. Nhất là sau khi chiến dịch Biên-Giới 1950 thành công nhờ sự ủng hộ nhiệt tình của hai đồng chí vĩ đại Xô-Trung, Hồ-Chí-Minh bắt đầu trịch thượng gọi mọi đối tác bằng “thằng”. Từ thằng Bảo-Đại, Nguyễn-Hải-Thần, Nguyễn-Tường-Tam cho đến thằng Tưởng-Giới-Thạch, Bollaert, De Lattre… đó là ngôn từ văn hóa Xã hội Chủ nghĩa được Hồ-Chí-Minh thông dùng trong việc phân biệt bạn và thù. Cho nên hầu hết các đảng viên CSVN đều phải học hỏi nhuần nhuyễn tư tưởng du côn của Bác đến độ gọi mọi người đều bằng thằng mà không thấy ngượng miệng.
(12) Cao-Thế-Dung. VN 30 năm máu lửa, trang 458.
(13) Họp báo của Thủ tướng Hữu sau khi thăm Vĩnh-Yên, Sài-Gòn Post đăng tải ngày 30/04/1951.
(14) Cao-Thế-Dung. Tài liệu đã dẫn, trang 162.
(15) Đoàn-Thêm. Tài liệu đã dẫn, trang 56 và 57.

Nguyễn-Văn-Ơn



11-01-2006

TỬ SĨ HOÀNG SA
Anh hùng Ngụy Văn Thà

QUỐC KỲ và QUỐC CA VN

Bài chọn đăng
Đại Sứ Mỹ J. C. Stevens
Chuyến hải hành sau cùng HQ
TT Thiệu với Hải chiến HS
Báo Tàu: Hải chiến Tây Sa74
Thủy xa vận mới EFV của Mỹ
Chiến Hạm HQ/VNCH di tản 75
Vì sao mất Thác Bản Giốc?
Đường Mòn Hồ Chí Minh
Tàu chiến tàng hình của Mỹ
Tiên Lãng: Đối kháng vũ lực
Your IP : 162.158.78.33    Sử LiệuTài liệu lịch sử Việt NamThành lập Quốc gia Việt Nam  

Copyright © 2003 - 2017 hqvnch.net
Website: 8800148 hits Page generated in: 0.046875 secs Webmaster